Điều kiện chuyển nhượng cổ phần của cổ đông sáng lập

Câu hỏi: Cổ đông sáng lập chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho một cổ đông khác của Công ty thì có cần phải có chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) hay Hội đồng quản trị (HĐQT), việc thay đổi đó có cần thay đổi giấy đăng ký kinh doanh ko? Hồ sơ cần những gì? Sau 03 năm cổ đông chuyển nhượng cổ phần có phải thay đổi đăng ký kinh doanh ko, việc chuyển nhượng này có hạn chế gì ko?

Trả lời: Theo quy định tại Điều 84 khoản 5 Luật doanh nghiệp hiện hành có quy định: Trong thời hạn ba năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho cổ đông sáng lập khác, nhưng chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông.

Trong trường hợp này, cổ đông dự định chuyển nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng các cổ phần đó và người nhận chuyển nhượng đương nhiên trở thành cổ đông sáng lập của công ty. Chiếu với quy định trên thì khi cổ đông sáng lập chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp cho cổ đông khác của công ty thì không cần phải có sự chấp thuận của ĐHĐCĐ hay HĐQT. Công ty phải thay đổi đăng ký kinh doanh trong trường hợp chuyển nhượng có số cổ phần từ 5% trở lên theo quy định tại khoản 4 Điều 86 luật doanh nghiệp.

Hồ sơ gồm những giấy tờ được quy định tại Điều 41 Nghị định 43/2010/NĐ-CP gồm: Công ty gửi Thông báo đến Phòng Đăng ký kinh doanh nơi công ty đã đăng ký. Kèm theo Thông báo phải có: quyết định bằng văn bản và bản sao biên bản họp của Đại hội đồng cổ đông về việc thay đổi cổ đông sáng lập; danh sách các cổ đông sáng lập khi đã thay đổi; hợp đồng chuyển nhượng cổ phần và các giấy tờ chứng thực việc hoàn tất chuyển nhượng; bản sao quyết định thành lập, bản sao hợp lệ một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân của người đại diện theo ủy quyền và quyết định ủy quyền tương ứng đối với cổ đông sáng lập nhận chuyển nhượng là tổ chức hoặc bản sao Giấy chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của cổ đông sáng lập nhận chuyển nhượng là cá nhân. Quyết định, biên bản họp của Đại hội đồng cổ đông phải ghi rõ những nội dung được sửa đổi trong Điều lệ công ty.

Sau thời hạn 03 năm từ khi công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh việc chuyển nhượng cố phần của cổ đông xảy ra hai trường hợp: Thứ nhất chuyển nhượng dẫn đến cổ đông sở hữu từ 5% tổng số cổ phần trở lên phải tiến hành đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền trong thời hạn bảy ngày làm việc (khoản 4 Điều 86 luật doanh nghiệp hiện hành). Thứ hai chuyển nhượng cổ phần không làm cổ đông nào sở hữu trên 5% cỏ phần không phải đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh, chuyển nhượng được hoàn tất khi được thanh toán đầy đủ và các thông tin về người mua được ghi đúng và đủ tại sổ đăng ký cổ đông (khoản 2 Điều 87 luật doanh nghiệp).

Việc chuyển nhượng cổ phần sau thời hạn 03 năm kể từ khi công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh không cần phải thông qua ĐHĐCĐ hay quyết định của HĐQT mà được tự do chuyển nhượng (khoản 5 điều 87 luật doanh nghiệp).

Luật Thái An


Số lượt xem: 10725
CÁC BÀI VIẾT LIÊN QUAN
« Đầu  Trước 1 - 2 - 3 - 4 - 5 - 6 - 7 - 8Tiếp Cuối »

Tư vấn doanh nghiệp
- Dịch vụ thành lập công ty - Dịch vụ thành lập doanh nghiệp - Tư vấn thành lập công ty - Thay đổi đăng ký kinh doanh - Luật sư doanh nghiệp
Tư vấn luật Hôn nhân và gia đình - Tư vấn ly hôn - Thủ tục ly hôn - ly hôn đơn phương - Chia tài sản khi ly hôn - Quyền nuôi con sau ly hôn

Chịu trách nhiệm về nội dung: Luật sư Nguyễn Văn Thanh - Giám đốc điều hành
Copyright© 2013 Thai An Law Firm